Diễn đàn Bệnh viện Giao thông Vận tải Tháp Chàm

Nơi trao đổi, thảo luận cho các thành viên trong và ngoài bệnh viện


You are not connected. Please login or register

phác đồ điều trị Herpes

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

1 phác đồ điều trị Herpes on Sun Mar 02, 2014 2:34 pm

Bs Tài Năng Sốt

avatar
Thành viên VIP
Thành viên VIP
Bệnh Herpes
Bệnh Herpes do virut Herpes (Herpes Simplex Virus - HSV)
Có 2 loại HSV:
+ HSV 1: Gây bệnh ở da, niêm mạc phần trên của cơ thể như mắt, mũi, miệng. Lây truyền bằng tiếp xúc trực tiếp với virus qua thương tổn của chúng hoặc qua nước bọt.
+ HSV2: Gây bệnh ở da niêm mạc bộ phận sinh dục. Bệnh lây truyền qua đường tình dục.Sự phân loại này không hoàn toàn tuyệt đối vì người ta có thể phân lập thấy HSV 1 ở những thương tổn tại bộ phận sinh dục và HSV2 cũng được phân lập từ những thương tổn ở môi, miệng.
I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH:
- Tổn thương ở môi (khô, nứt môi, chấn thương…).
- Chấn thương răng-miệng (nhổ, trám răng…).
- Sốt, cảm cúm, các bệnh nhiễm trùng (như viêm đường hô hấp trên…).
- Kinh nguyệt, có thai.
- Suy nhược cơ thể, căng thẳng tinh thần, chấn thương thể chất.
- Giảm sức đề kháng, giảm miễn dịch (AIDS, ung thư…).
II. TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH HERPES:
- Người là vật chủ duy nhất của HSV. Người có thể bị nhiễm Herpes miệng do dùng chung khăn với người bị bệnh, do sử dụng dụng cụ xăm, tiêm không được tiệt khuẩn đúng cách. Thời gian ủ bệnh khoảng 1 tuần (dao động từ 2 - 20 ngày).
-Khi bị nhiễm HSV lần đầu thường biểu hiện điển hình với các đám mụn nước trên nền da màu đỏ. Các mụn nước lõm ở giữa, có thể bội nhiễm hóa mủ. Sau đó mụn nước dập vỡ để lại vết trợt, có khi thành vết loét sâu, một số đóng vảy tiết hoặc rỉ dịch. Thương tổn có thể ở trên da hoặc niêm mạc vùng miệng. Bệnh diễn biến nặng sau khoảng 3-4 ngày rồi đỡ dần trong vài ngày sau đó. Các thương tổn lành sẹo trong khoảng 2-4 tuần. Có thể thấy tại chỗ bị thâm hoặc trắng, đôi khi để lại sẹo. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân không có biểu hiện bệnh điển hình như vậy mà chỉ thấy đám da màu đỏ, vết trợt da, nứt da và nhiều khi không có biểu hiện gì nhưng virut vẫn bài xuất ra và lây cho người khác khi tiếp xúc.
- Có trường hợp bị nhiễm HSV nhưng không có triệu chứng bệnh. Khi một người bị nhiễm HSV thì virut sẽ nằm trong hạch thần kinh cảm giác và ở đó suốt cả đời người bệnh. Khi cơ thể mệt mỏi, giảm sức đề kháng, bị stress thì chúng sẽ trở nên hoạt tính và từ trong hạch thần kinh đi ra ngoài da - niêm mạc gây bệnh. Khoảng 1/3 số người bệnh bị tái phát, một nửa số họ bị tái phát ít nhất 2 lần/năm. Các yếu tố hay làm cho bệnh tái phát bao gồm: da - niêm mạc bị kích thích như bị chiếu tia tử ngoại, khi có kinh, bị sốt, cảm lạnh, giảm sức đề kháng. Khi bệnh tái phát, có thể xuất hiện một số triệu chứng báo trước như khó chịu, ngứa, cảm giác bỏng rát.
- HSV xâm nhập qua niêm mạc miệng, đôi khi qua da bị tổn thương. Da bình thường có lớp sừng và màng lipid bảo vệ có tác dụng chống lại sự xâm nhập của HSV. Niêm mạc miệng thường bị trong lần đầu với biểu hiện mụn nước bị dập vỡ nhanh để lại vết trợt. Viêm lợi gây đau, phù, lợi màu tím, tiết nhiều nước bọt. Đôi khi kết mạc và giác mạc cũng bị tổn thương do lây nhiễm từ các thương tổn ở miệng. Hậu quả đôi khi rất nguy hại do các vết loét làm tổn thương giác mạc, gây sẹo và giảm thị lực của người bệnh. Hạch lân cận vùng dưới cằm sưng.
Các biểu hiện toàn thân và biến chứng thường gặp trong giai đoạn sơ phát hơn là trong giai đoạn tái phát:
+ Cứng gáy, đau đầu, sợ ánh sáng là biểu hiện của viêm màng não do HSV.
+ Sốt, mệt mỏi, nhược cơ, đau cơ.
+ Rối loạn chức năng hệ thần kinh tự động.
+ Biến chứng gây liệt mặt.
+ Viêm não - màng não, viêm giác mạc, hồng ban đa dạng, eczema herpeticum do nhiễm HSV trên những người bị eczema, viêm phổi, viêm dạ dày, thực quản, viêm màng bồ đào, viêm võng mạc...
III. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH HERPES:
- Viêm nướu răng - miệng cấp tính, thường xảy ra ở trẻ em từ 1-5 tuổi.
- Nhiễm herpes dạng chàm: Thường gặp ở những bệnh nhân đã có các bệnh ngoài da trước đó như: Viêm da thể tạng, pemphigus, viêm da mãn tính.
- Phát ban dạng thủy đậu: Là dạng nhiễm virus herpes ngoài da nhưng lan rộng và có dạng chốc lở. Khởi phát đột ngột các triệu chứng: Sốt, ớn lạnh, khó chịu và những chùm mụn nước xuất hiện ở những vùng da bất thường. Các sang thương hình thành trong 7-10 ngày, lan rộng và kết nối nhau thành những mảng loét trượt rộng hơn. Sau đó bị bội nhiễm vi trùng Staphylococcus hay Streptococcus.
- Viêm giác mạc - kết mạc mắt: Với các triệu chứng: Đau, xốn, chảy nước mắt và nhạy cảm với ánh sáng. Nếu không sớm điều trị, có thể dẫn đến mù lòa vì gây ra những vết loét ở giác mạc, kết mạc
- Viêm não - màng não dạng herpes cấp tính: Là biến chứng thường gây tử vong nếu không điều trị kịp thời.
- Nhiễm herpes qua đường tiêm chích: Biểu hiện là các triệu chứng nhiễm virus herpes ở ngón tay. Cần lưu ý phân biệt với những chẩn đoán nhiễm trùng quanh móng (chín mé)
- Hồng ban đa dạng: Là tình trạng phát ban đối xứng, thường ở tay, chân và sang thương xuất hiện ở nhiều dạng (dát, sẩn, mảng…) chứ không chỉ mụn nước. Bệnh có thể tái phát thành từng đợt và kéo dài trong 2-3 tuần.
 Xét nghiệm: huyết đồ, tổng phân tích nước tiểu.
IV. ĐIỀU TRỊ BỆNH HERPES:
 Kháng virus:
- Toàn thân:
Người lớn: acyclovir 200mg/ lần, ngày uống 5 lần cách 4 giờ
Trẻ em: 2 tuổi hoặc trên 2 tuổi: Liều như người lớn. Dưới 2 tuổi: dùng ½ liều
người lớn. Nếu suy giảm miễn dịch nặng hoặc hấp thu kém: 400 mg/lần ngày 5 lần, dùng
trong 5 ngày.
- Tại chỗ: thoa thuốc mỡ acyclovir 5% ngày 4-5 lần. Không bôi thuốc vào niêm mạc mắt.
Nói chung tùy giai đoạn bệnh mà liều lượng và số ngày dùng thuốc sẽ khác nhau.
 Giảm đau, an thần, sinh tố.
V. PHÒNG NGỪA LÂY NHIỄM
Herpes rất dễ lây nhiễm qua đường tiếp xúc trực tiếp khi vẫn còn các sang thương, vì vậy cần lưu ý những điều sau:
- Không chạm vùng có sang thương của mình vào người khác, như: hôn hít, sờ, chạm.
- Không dùng chung đồ dùng cá nhân như bàn chải đánh răng, khăn tắm, khăn lau mặt, ly uống nước, chén-đũa-muỗng, son môi, phấn trang điểm và “khăn ướp lạnh”…
- Rửa tay sau khi thoa thuốc.
- Không sờ lên mắt. Không dùng nước miếng để làm ướt kính sát tròng.
- Cẩn thận khi trang điểm và tẩy trang. Không nên cố gắng dùng cream hay phấn trang điểm để
che đi những mụn rộp hay vết lở vì sẽ dễ bị bội nhiễm vi trùng.
Vết lở sẽ không còn gây lây nhiễm khi đã lành hoàn toàn và vùng da bị ảnh hưởng đã trở về bình thuờng.
VI. CHĂM SÓC:
- Xúc miệng bằng nước muối pha loãng để để làm sạch, êm dịu vết thương và giảm nguy cơ bội nhiễm vi trùng.
- Giảm căng thẳng, lo âu.
- Tăng cường dinh dưỡng, nâng cao tổng trạng.
- Tránh các loại thức ăn có nồng độ arginine cao (arginine là 1 loại amino acid cần thiết cho chu kỳ tái sinh của virus herpes) như: Dừa, đậu nành, đậu phụng, chocolate, cà-rốt… Nên ăn các loại thực phẩm mềm và lạt như: rau quả, trái cây, giá, thịt bò, cá, gà, phô-mát… để tránh kích thích các vết lở và các vùng da nhạy cảm xung quanh.
VII. TIÊU CHÍ RA VIỆN:
- BN không còn đau rát, ăn uống được, hết mệt mỏi.
- Hết sốt, hết đau cơ khớp.
- Các vết lở loét lành tốt, không còn mụn nước.


________A_________

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết